Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

3 kiểu cửa sổ đuổi tiền.

Trong phong thủy có rất nhiều yếu tố liên quan chặt chẽ tới tài lộc. Cửa sổ là một nơi quan trọng để giữ gió và khí. Vì thế, vị trí, hình dáng, kích thước cửa sổ sẽ xác định nguồn khí của ngôi nhà là tốt hay xấu, mạnh hay yếu. Nó cũng liên quan đến phong thủy của ngôi nhà và kiểm soát may mắn của gia đình.
Các thành viên trong gia đình sẽ có sức khỏe dồi dào, cuộc sống yên ấm, công việc thuận lợi và mãn nguyện nếu phong thủy cửa sổ tốt. Ngược lại, khi phong thủy cửa sổ xấu thì sức khỏe của mọi người trong nhà dễ bị tổn hại và nguồn tài chính cũng bị phá vỡ.
3 kiểu cửa sổ “đuổi” tiền đi - 1

 Bài trí cửa sổ hợp phong thủy sẽ giúp đón thêm nhiều vượng khí, mang lại năng lượng tươi mới cho ngôi nhà.
Nhìn chung, cửa sổ với những đặc tính và phương hướng khác nhau sẽ có ý nghĩa và ảnh hưởng khác nhau lên ngôi nhà. Mặt trời mọc ở hướng Đông, báo hiệu sự khởi đầu của một cuộc sống mới, giàu hy vọng và sức sống. Do đó, tốt nhất bạn nên chọn cửa sổ hướng Đông để mang lại cho ngôi nhà nguồn năng lượng dương dồi dào, thu hút sự may mắn.
Dưới góc độ phong thủy, bạn nên tránh 3 kiểu cửa sổ “xua đuổi” tài lộc sau đây:
 Thứ 1: Các cửa sổ đối diện nhau
3 kiểu cửa sổ “đuổi” tiền đi - 2
Các căn hộ chung cư thường có cửa sổ đối diện nhau không tốt đẹp.

Thứ 2: Cửa sổ nhìn thấy dấu hiệu chữ thập bên ngoài
3 kiểu cửa sổ “đuổi” tiền đi - 3
Có một phép ẩn dụ trong phong thủy ví cửa sổ giống như đôi mắt của con người và mỗi ngày chúng ta đều mở chúng ra. Nếu cửa sổ đối diện hoặc nhìn thấy dấu hiệu chữ thập (hình cây thánh giá) bên ngoài sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người. Bởi vì, dấu hiệu chữ thập đại diện cho tôn giáo, bệnh viện và là dấu hiệu thuộc về linh hồn ma quỷ trong phong thủy. Nó có thể tác động rất nhiều đến sức khỏe cá nhân, dễ kích động mặt phản diện và hành vi sai trái dẫn đến những khó khăn trong tài chính.
Dấu hiệu chữ thập càng cao, càng lớn thì ảnh hưởng sẽ càng mạnh mẽ hơn.  

Thứ 3: Cửa sổ đối diện với con đường dài và thẳng
3 kiểu cửa sổ “đuổi” tiền đi - 4
Tránh tối đa việc mở cửa sổ hướng thẳng về phía con đường thẳng và dài.
Cửa sổ đối diện với một con đường dài và thẳng được xem là không may mắn. Những chiếc xe di chuyển trên con đường nhộn nhịp đang lái thẳng về phía cửa sổ của ngôi nhà, tình huống này là một điềm báo xấu. Nó gây bất lợi cho sức khỏe và sự giàu có của gia chủ.
Ngược lại, nếu những chiếc xe lái thẳng về phía con đường dài và thẳng thì gia đình sẽ khó tích lũy được của cải.


Thuyết ngũ hành trong việc chọn đá phong thủy

Mối liên hệ giữa Ngũ Hành: Kim , Mộc , Thủy , Hỏa , Thổ là một phần quan trọng trong Tử vi Trung Hoa. Mỗi hành đều có sự tác động lên hành khác đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của một hành khác, vì thế một môi trường với ngũ hành cân bằng là điều rất lý tưởng.
Kim tương hỗ với Thủy;
Thủy nuôi dưỡng cây cối, vì thế tương hỗ với Mộc;
Mộc làm lửa cháy lớn hơn, vì thế tương hỗ với Hỏa;
Hỏa tạo ra tro, vì thế tương hỗ với Thổ;
Thổ là nơi chứa đựng Kim.
Ngũ hành kết hợp với 12 con giáp ứng với mỗi năm tạo ra một chu kỳ 60 can chi, đây cũng là yếu tố quan trọng trong phân tích Tử vi Trung Hoa.
Thông qua sự phân tích Tứ trụ của mỗi người, là sự kết hợp giữa ngũ hành và con giáp của giờ, ngày, tháng, năm sinh của mỗi người, sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về chính bản thân của mình.
Trong tử vi Trung Hoa, mối liên hệ giữa năm nguyên tố: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ chiếm một vị trí quan trọng. Năm hành này khi tương tác lẫn nhau phải theo cơ chế hai chiều là Tương Sinh và Tương Khắc. Đây là tinh thần căn bản của thuyết Ngũ Hành.
Tương sinh 
Nhờ nước cây xanh mọc lớn lên
(thuỷ sinh mộc)
Cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ
(mộc sinh hoả)
Tro tàn tích lại đất vàng thêm
(hoả sinh thổ)
Lòng đất tạo nên kim loại trắng
(thổ sinh kim)
Kim loại vào lò chảy nước đen
(kim sinh thuỷ)
Tương khắc
Rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày
(mộc khắc thổ)
Đất đắp đê cao ngăn nước lũ
(thổ khắc thuỷ)
Nước dội nhiều nhanh dập lửa ngay
(thuỷ khắc hoả)
Lửa lò nung chảy đồng sắt thép
(hoả khắc kim)
Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây
(kim khắc mộc)


Theo đó, hai hành đứng kề nhau thì sinh nhau, luân chuyển mãi không ngừng, các hành cách nhau thì khắc nhau, và cứ thế mà luân lưu mãi, biểu thị cho triết lý cao siêu của sự đổi thay, biến dịch của vũ trụ tự nhiên. Một khi Ngũ Hành cân bằng thì vận số của một người theo đó cũng tốt đẹp theo. Qua việc phân tích Tứ Trụ - là sự kết hợp giữa  Ngũ Hành và thời khắc ra đời (giờ, ngày, tháng, năm) của một người, tử vi Trung Hoa sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về chính bản thân mình.

Ngọc Lục Bảo


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngọc lục bảo là một loại khoáng vật berin (Be3Al2(SiO3)6) của berili có màu xanh với các sắc độ của màu lục và màu lục hơi ngả sang màu lam (bluish green). Màu xanh của ngọc lục bảo xuất phát từ hàm lượng nhỏ crôm và đôi khi cả vanađi[1] trong khoáng vật. Berin có độ cứng 7,5 - 8 trên 10 của thang độ cứng Mohs[1]. Ngọc lục bảo có thể được sản xuất nhân tạo.
Ngọc lục bảo đã được dùng làm như một đơn vị tiền tệ để trao đổi ở Babylon từ 2000 năm trước Công nguyên. Ở Ai Cập cổ đại, người ta đã khai thác các quặng mỏ ngọc lục bảo ở gần Biển Đỏ từ hơn 2000 năm trước Công nguyên để làm đồ trang sức. Các mỏ ở Djebel Sabara, được tìm thấy lại vào năm 1818, được đặt tên nhầm lẫn là mỏ Cleopatra. Các mỏ này hiện đã cạn kiệt, chỉ cung cấp được các loại đá quý có chất lượng không cao.
Vào thời Đế chế La Mã Hoàng đế Nero đã dùng kính một tròng làm từ ngọc lục bảo khi xem các cuộc đấu trong võ đài. Thời kỳ này ở châu Âu người ta chỉ biết đến mỏ ngọc lục bảo duy nhất là ở Habachtal (Áo).
Trong thế kỷ 16, người Tây Ban Nha khám phá các mỏ mới ở Nam Mỹ, chủ yếu là ở Colombia. Mỏ ở Chivor được khai thác từ năm 1545 và mỏ ở Muzo vào năm1560.
Một trong những hòn ngọc lục bảo lớn nhất thế giới là hòn ngọc Mogul Emeraldđược tìm thấy vào năm 1695 ở Ấn Độ. Hòn ngọc này nặng 217,80 cara và cao vào khoảng 10 cm. Một mặt của ngọc có khắc các bài kinh cầu nguyện, mặt kia khắc các hình hoa trang trí. Viên ngọc đã trở thành truyền thuyết này được một người giấu tên mua với giá 2,2 triệu USD vào ngày 28 tháng 9 năm 2001 tại Luân Đôn trong một cuộc bán đấu giá của Christie
Ngọc lục bảo có thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể giống beril, tỷ trọng 2,67 - 2,78, với nguyên tố tạo màu là Cr, đôi khi là V.
Màu sắc: Emơrôt thường có màu lục tới lục đậm. Màu lục của emơrôt không gì sánh được vì thế được gọi riêng là "lục emơrôt". Nguyên nhân tạo màu lục là do Cr2O3, đôi khi là vanadi (Va). Màu sắc rất ổn định dưới tác dụng của ánh sáng và nhiệt, chỉ biến đổi nhiệt độ 700 - 8000C. Màu được ưa chuộng nhất là màu lục thắm, còn màu lục nhạt, vàng lục, lục tối ít chuộng hơn. Màu sắc trong viên đá thường phân bố không đều, mà tạo thành các sọc hoặc đám màu. Sắt cũng thường xuyên có mặt trong emơrôt và làm giảm sự phát quang của đá. Chỉ số chiết suất 1,576 - 1,582; lưỡng chiết 0,006; phổ hấp thụ: 6835, 6896, 6620, 6460, 6370, 6300, 5800, 4774, 4725;
Ngọc lục bảo phát quang màu đỏ, và dưới kính lọc Chelsea cũng cho màu đỏ. Sự phát quang này có thể bị giảm đi khi có mặt củ Fe, và có thể không phát quang, đặc tính quang học: một trục âm.
Thông thường emơrôt chứa các bao thể tự nhiên như: bao thể lỏng với bọt khí và các bao thể cứng khác. Những bao thể đó là chứng cứ cho nguồn gốc tự nhiên của viên đá so với loại tổng hợp và mô phỏng. Bao thể rắn trong emơrôt:pyrit, sylvin, parisit (một khoáng vật đất hiếm), bao thể tinh thể âm định hướng song song với trục của tinh thể. Đặc biệt trong emơrôt hay có các màng sương nên người ta có tên gọi cho loại này là "emơrôt vườn cảnh" .[2]
·         Colombia là nước sản xuất ngọc lục bảo quan trọng nhất thế giới, chiếm 60% lượng sản xuất của thế giới với 6 triệu cara trong năm 1995, gồm các mỏ Chivor, Muro, Peña Blanca và Coscuez. Không chỉ dẫn đầu về số lượng, ngọc từ Columbia cũng dẫn đầu về chất lượng. Ngọc lục bảo từ Columbia nói chung là tinh khiết hơn các ngọc có nguồn gốc khác.
·         Các nước sản xuất ngọc lục bảo quan trọng nhất:
Colombia Chivor, Muzo, Peña Blanca et de Coscuez 60% -Zambia 15% -Brasil Nova Era 12% -Nga Ural 4%- Zimbabwe Sandawana 3%- Madagascar3%.
-Hiện tại Việt Nam chưa phát hiện được emơrôt, nhưng các dấu hiệu địa chất ở một số vùng có thể cho phép phát hiện emơrôt trong tương lai.


Đeo đá quý để trị bệnh.

Các hạt đá quý không chỉ dùng làm đẹp mà còn ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần và sức khỏe của bạn. Chẳng hạn, người xưa cho rằng thạch anh tím cải thiện chứng mất ngủ, saphia chữa bệnh đau đầu.
Từ xa xưa, người cổ đại đã biết dùng đá quý để chữa bệnh. Họ tin rằng đá quý có khả năng điều chỉnh sự mất cân bằng trong cơ thể và tạo nên năng lượng bên trong con người. Các bậc vua chúa đã dùng đá quý như một vật tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực. Họ đeo đá quý quanh đầu với niềm tin chúng sẽ giúp trở nên thông thái hơn. Người Hy Lạp, Ai Cập, La Mã cổ đại thì dùng đá quý như những tấm bùa để bảo vệ bản thân.
Các loại đá quý thường được dùng trong những nghi thức thuộc về tâm linh. Chúng được đặt lên người khi massage, hoặc cho vào nước uống, nước tắm nhằm chuyển hóa năng lượng, giúp bảo vệ con người khỏi bị thương, tăng khả năng thần giao cách cảm...
Các bác sĩ chuyên về phương pháp chữa bệnh bằng đá cho rằng những viên đá có khả năng thu hút năng lượng từ suy nghĩ của con người, nên có tác dụng chữa bệnh. Người ta còn dùng những viên đá nhiều màu sắc, phản chiếu ánh sáng của thiên nhiên để làm tăng sức mạnh của cơ thể. Phương pháp này dựa trên sự hài hòa, trao đổi năng lượng giữa hai vật thể khác nhau, đó là đá và cơ thể con người. Dưới đây là một số loại đá quý và tính năng của chúng.
Hổ phách: (còn gọi là huyết phách, minh phách) là nhựa đã hóa thạch của một loài thông cổ ngày nay đã tuyệt chủng. Hổ phách thường ở dạng khối nhũ, màu sắc rất trong và đẹp. Hổ phách được người Trung Hoa sử dụng từ những năm 90 sau Công nguyên và được khai thác, buôn bán rộng rãi từ thế kỷ 13.
Đông y cho rằng hổ phách có tác dụng an thần, định kinh, lợi tiểu..., đeo bên mình thường xuyên sẽ giúp tăng cường sức khỏe. Hổ phách thường được chế tác thành những đồ trang sức như nhẫn, vòng, hoa tai...
Căn phòng hổ phách nổi tiếng do vua nước Phổ là Friedrich Wilheim I tặng cho vua nước Nga Piere Đại đế được mệnh danh là kỳ quan thứ 8 của thế giới. Nó được chạm trổ và dát toàn bằng hổ phách. Căn phòng được đặt trong Cung điện Mùa Đông, nhưng trong Chiến tranh thế giới thứ 2 đã bị phát xít Đức cướp đi. Số phận của căn phòng hổ phách ra sao hiện giờ vẫn là một bí mật.
Đá thạch anh được con người phát hiện từ gần 300.000 năm trước, là loại tinh thể nhiều màu hồng, tím rất bắt mắt. Nhiều dấu tích cho thấy con người thời kỳ tiền sử đã biết sử dụng thạch anh làm đồ trang sức. Từ xa xưa, thạch anh đã được coi là một loại đá có khả năng chữa bệnh. Thạch anh tím có thể chữa bệnh mất ngủ, giúp con người giữ được niềm tin và lòng dũng cảm. Trang sức đá thạch anh hồng giúp con người tăng cường thể lực và tinh thần. Nhiều loại đá thạch anh được dùng trong các thiết bị massage để day vào các huyệt đạo giúp lưu thông khí huyết và điều tiết năng lượng. Người Hy Lạp cổ sử dụng những chiếc cốc làm bằng đá thạch anh đỏ và cho rằng nó sẽ giúp lọc chất độc, hoặc uống rượu mà không bị say.
Ngọc lục bảo là loại đá có màu xanh lam (do lượng crôm trong đá tạo nên). Ngọc lục bảo rất hiếm vì sự hình thành của nó đòi hỏi những điều kiện địa chất rất đặc biệt. Từ 2.000 năm trước, con người đã sử dụng ngọc lục bảo như một thứ tiền tệ để trao đổi và làm đồ trang sức.
Những nhà tiên tri thường sử dụng ngọc lục bảo như một vật giúp họ tiên đoán được tương lai. Người ta cho rằng ngọc lục bảo có khả năng dự báo bệnh tật (màu sắc của ngọc lục bảo thay đổi tùy theo tình trạng sức khỏe của người đeo).
Đá saphia: có nhiều màu sắc được con người sử dụng từ 800 năm trước Công nguyên. Đá saphia có nhiều ở Ấn Độ, Miến Điện, Himalaya. Áp suất và nhiệt độ lòng đất làm cho ôxit nhôm kết tinh thành những viên đá saphia đẹp màu trắng. Một lượng nhỏ các khoáng chất khác, chẳng hạn sắt và crôm, làm cho saphia có sắc xanh, đỏ, vàng, hồng, tím, da cam hoặc lục nhạt. Người xưa quan niệm đeo đá saphia sẽ ngăn được ma quỷ. Có thời kỳ các thầy thuốc cổ đại dùng saphia để chữa các chứng bệnh liên quan đến cơ, xương khớp, đau đầu, đau bụng, chảy máu cam...
Ngọc topaz: là một loại đá quý có màu vàng, trong suốt. Theo truyền thuyết, topaz là một trong những viên đá che chở con người chống lại các dịch bệnh, vết thương, đột tử, những phép thuật tiêu cực, sự đố kỵ và những ý nghĩ điên rồ. Topaz còn được đeo để giúp giảm cân, chữa các bệnh về hệ tiêu hóa .
Đá peridot: Nhiều tài liệu cho thấy nữ hoàng Ai Cập Cleopatra rất thích đá peridot. Đây là loại đá quý hiếm sinh ra từ núi lửa, có màu xanh hơi vàng. Đá peridot chất lượng được khai thác ở các vùng như Arizona, Nauy, khu vực biển Hồng Hải. Người xưa tin việc đặt đá này lên giường sẽ tốt cho hệ thần kinh, làm giảm cơn giận dữ và những hành động tiêu cực. Người La Mã tin đá peridot sẽ giúp họ yêu đời mỗi khi cảm thấy chán nản, và có khả năng chữa bệnh về gan, đau thần kinh tọa, đau lưng .
Đá carnelian: Tên loại đá này có nghĩa là sự sống. Người xưa cho rằng carnelian có khả năng chữa bệnh. Carnelian làm giảm sự giận dữ và có thể cầm máu khi bị thương.
Đá muối Himalaya: Có giải thuyết: Cách đây hàng chục triệu năm Tây Tạng là một vùng biển, vì thế loại đá muối ở Himalaya là một quà tặng đặc biệt của tạo hóa. Đá muối Himalaya được cho là tinh khiết, không chỉ hấp dẫn bởi màu sắc vô cùng đa dạng mà còn có công dụng chữa nhiều bệnh. Nó giúp cơ thể cân bằng năng lượng, giảm các chứng đau đầu mệt mỏi, thậm chí hỗ trợ cho hoạt động của tim, phổi, thận.
Ngoài ra còn rất nhiều loại đá khác được con người sử dụng như đồ trang sức và bảo vệ sức khỏe như đá beryl (màu xanh, vàng) giúp mạng lại sự vui vẻ, có tác dụng cho tim mạch và cột sống; đá bloodstone được người Hy Lạp coi là máu của Chúa Jesus, có tác dụng cầm máu vết thương, giúp những người leo núi tăng cường sức lực; đá mã não giúp tăng trí nhớ, sự kiên nhẫn và sức chịu đựng;...
Cho đến ngày nay, quan niệm về khả năng chữa trị bệnh của các loại đá của người xưa vẫn chưa được khoa học hiện đại kiểm chứng. Ngoài tác dụng làm đồ trang sức thì các tính năng chữa bệnh của chúng vẫn còn là một ẩn số.
Mới đây, các nhà khoa học Pháp đã tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy một số loại đá có khả năng trao đổi năng lượng. Thậm chí họ còn chứng minh rằng đá không phải là một tĩnh vật mà có thể “thở”, vận động và tiềm ẩn nhiều nguồn năng lượng có tác động đến con người.


Đá Quý Theo Cung Mệnh

Dùng trang sức bừa bãi, không theo màu sắc ngũ hành cho hợp với mệnh người đeo, sẽ đem lại những điều không may mắn cho họ. Ngược lại, nếu đeo trang sức đá có màu sắc phù hợp voiws mệnh thì sẽ đem lại sức khỏe, may mắn, hưng vượng cho người đeo.

1. Người mệnh THỦY nên đeo đá gì?

Người mệnh Thủy khi mua đá quý cần lưu ý
Tốt nhất  cho người mệnh Thủy là BẠC và ĐÁ MÀU TRẮNG. Vì các màu sắc trên theo quy định của ngũ hành là thuộc Kim, mà Kim sinh Thủy nên khi đeo Bạc và Đá màu Trắng, người mệnh Thủy sẽ dược Tương sinh.
Tốt thứ nhì cho người mệnh Thủy là sự Hoà hợp giữa người mệnh Thủy với màu sắc của viên đá. Đó là họ nên dùng các màu ĐEN, XANH NƯỚC BIỂN như saphiare, aquamarin, tactit...
Thứ ba, người mệnh Thủy khắc được Hỏa ( Nước sẽ dập tắt được Lửa), tức là họ dùng được các màu mà họ chế ngự được như ĐỎ, HỒNG, TÍM.

Nên dùng: Người mệnh Thủy được đeo đá quý với các màu sắc như sau:
Được tương sinh: Đá trắng, vàng, bạc  
Được tương hợp: Đá màu đen, màu xanh nước biển 
Chế khắc được đá các màu: Đỏ, hồng, tím
Không nên dùng: Tuyệt đối không nên dùng các màu sau:
Đá vàng sậm, nâu đất
Vì đó là màu thuộc hành Thổ. Chặn được nước lớn ở sông, ở biển tràn vào, người ta phải đắp đê điều bằng đất, đá , cát. Thổ  sẽ chế ngự được Thủy. Chính vì vậy, người mệnh Thủy không nên đeo đá có các màu thuộc Thổ, sẽ bất lợi cho họ.

2. Người mệnh HỎA nên đeo đá gì?

Tính chất mệnh Hỏa
Đá quý loại nào cũng tỏa ra rất nhiều năng lượng tốt cho người dùng. Nhưng tốt cho người mệnh Hỏa nhất phải là đá có màu thuộc hành Mộc, tức là xanh lá cây. Vì Gỗ khi cháy sẽ thành ngọn Lửa, nghĩa là Mộc sẽ sinh Hỏa. Chính vì vậy, đá có màu xanh lá cây là màu đá lý tương số 1 mà người mệnh Hỏa nên dùng.
Cũng như các mệnh khác, người mệnh Hỏa sẽ tốt nếu dùng đá quý có màu tương hợp, tức là cùng hành Hỏa với các màu đặc trưng của Hỏa là Đỏ, Hồng, Tím.
Còn nếu họ thích dùng đá màu trắng thì cũng được, vì mệnh của họ chế khắc được màu của viên đá, tức là Hỏa khắc được Kim. Nung kim loại chảy ra thành nước- điều đó chỉ có Lửa mới làm được mà thôi!

Nên dùng: Người mệnh Hỏa được đeo đá quý với các màu sau:
Được tương sinh khi họ dùng đá màu Xanh lá cây.
Được hòa hợp nếu họ dùng đá màu Đỏ, hồng, tím. 
Chế khắc được những viên đá có màu Trắng. 
Không nên dùng:
Đá màu đen, màu xanh nước biển. 
Vì đó là màu của Nước( THỦY). Khi dùng họ gặp xui, vì THỦY- HỎA giao đấu, thì phần thua sẽ thuộc về họ, bởi Nước sẽ dập tắt Lửa.

3. Người mệnh MỘC  nên đeo đá gì?

Để người mệnh Mộc được khỏe mạnh, may mắn, tài lộc, phát đạt, thì việc chọn mua một viên đá hợp mệnh theo màu sắc ngũ hành là điều rất quan trọng.
Nguời mệnh mộc nên đeo đá quý như sau:
Để được tương sinh: Thủy dưỡng mộc. Màu đá tốt nhất dành cho người mệnh mộc là màu nước, bao gồm: đen, xanh nước biển, xanh da trời, xanh Lam.
Để được tương hợp: Lưỡng mộc thành Lâm. Có nhiều cây là có rừng. Hòa hợp với người mệnh Mộc chính là màu Mộc, gồm: gỗ hóa thạch, xanh lá cây.
Để chế khắc được viên đá: Người mệnh Mộc chế được Thổ gồm các màu vàng sậm, nâu đất, gỗ hóa thạch. Như vậy đeo viên đá có màu Thổ, người mệnh mộc được an toàn và không phải lo lắng.

Nên dùng: Tóm lại, người mệnh Mộc được đeo đá quý có các màu sắc:
Tương sinh: đen, xanh lam, xanh da trời, xanh nước biển
Tương hợp: gỗ, xanh lá cây 
Chế ngự: vàng sậm, nâu đất, các loại hóa thạch 
Không nên dùng: 
Tuyệt đối không nên dùng các loại đá màu của Kim như trắng và bạc.
Vì dao chặt được cây gỗ cho nên khi đeo trang sức với viên đá màu tượng trưng cho Kim sẽ không tốt cho người đeo. Ta nên tránh đá màu trắng cho người mệnh Mộc.

4. Người mệnh KIM  nên đeo đá gì?

Người mệnh Kim nên đeo đá quý như sau:
Tốt nhất là được tương sinh:Kim là do thổ sinh ra. Đất sinh ra vàng bạc nên dùng các màu thuộc thổ như vàng sậm, nâu đất, gỗ hóa thạch như mắt hổ.
Tốt thứ nhì là được hòa hợp:Hợp với mệnh Kim là Kim. Đó là trắng (bạc kim), vàng tươi (vàng trang sức) và bạc.
Thứ ba mới đến sự chế khắc:Kim sẽ chế khắc được mộc. Chủ thể là người mệnh kim sẽ chế khắc được viên đá mình đeo có các gam màu xanh lá cây.

Tóm lại, người mệnh Kim được đeo đá quý có các màu sau:
Tương sinh: đá vàng sậm, nâu đất, mắt hổ 
Hòa hợp: đá bạc, trắng, vàng tươi 
Chế khắc: xanh lá cây 
Không nên dùng:
Đá có màu thuộc hành Hỏa như đá đỏ, hồng, tím.
Vì Hỏa khắc Kim cho nên khi đeo đá có màu tượng trưng cho lửa sẽ gây bất lợi cho chủ nhân của nó.

5. Người mệnh THỔ nên đeo đá gì?

Tính chất mệnh Thổ
Khi mọi vật bị đốt cháy, sẽ thành tro, bụi, đất, cát. Vậy HỎA sẽ sinh ra THỔ. Cho nên, người mệnh Thổ hãy dùng những viên đá quý có màu của Hỏa, sẽ được tương sinh. Đó là các màu: ĐỎ, HỒNG, TÍM.
Có câu:" lưỡng Thổ thành Sơn". Nếu họ dung đá có màu VÀNG SẬM, NÂU ĐẤT, sẽ rất tốt cho họ, vì người và đá cùng mệnh có sự tương hợp với nhau.
Đất đá chế ngự được nước. người mệnh Thổ sẽ chế ngự được viên đá có màu của hành Thủy là ĐEN, XANH NƯỚC BIỂN.

Nên dùng: Người mệnh Thổ sẽ dùng được những viên đá quý có màu sắc:
Để được tương sinh: màu ĐỔ, HỒNG, TÍM (Hỏa)
Để được hòa hợp: màu NÂU ĐẤT, VÀNG SẬM.(Thổ) 
Để chế khắc được: ĐEN, XANH NƯỚC BIỂN (Thủy) 
Không nên dùng:
Đá có màu XANH LÁ CÂY, vì đó là đá có màu cùa hành Mộc. 
Cây sống trên đất, hút hết sự màu mỡ của đất, khiến đất suy kiệt. Người mệnh Thổ nếu dùng đá có màu xanh lá cây sẽ bị suy yếu về sức khỏe, khó khăn về tài chính


Công năng của đá quý.

CÔNG NĂNG CỦA ĐÁ THẠCH ANH

Thạch anh tím – Amethyst: năng lượng từ trường lớn, thay đổi phong thủy trong phòng, nếu đặt ở vị trí tài lộc có tác dụng khử tà khí, tích tụ tài khí, đem lại cho bạn nhiều may mắn. Tránh tà, hộ thân, kéo dài tuổi thọ, giải độc, trợ giúp trí tuệ phát triển tốt, tăng cường năng lực học tập của học sinh. Thạch anh tím còn gọi là đá quý Amethyst, là loại quý và hiếm nhất trong các loại thạch anh. Thạch anh tím biểu trưng cho sự tự chủ về mặt tinh thần; Có ý thức về mọi vấn đề; Niềm tin về tâm linh; Khả năng dự đoán – tiên tri; Sức sống mạnh mẽ; Tính chặt chẽ – chính xác; Đúng mực – thận trọng; Điều độ – tiết độ. Thạch anh tím đặc biệt rất thích hợp cho các doanh nhân và các nhà hoạt động xã hội -chính trị.

 

Thạch anh trắng – Crystal Quartz: Trấn trạch, tránh tà, tịnh hóa toàn than, khai vận, ngăn sát khí, có công năng tự động hóa giải năng lượng phụ, có thể khử tia phóng xạ, nên đặt ở tài vị trong công ty hoặc gia đình. Là viên đá của vũ trụ, cung cấp nguồn năng lượng tinh khiết và mạnh mẽ. Thạch anh trắng tiếp nhận, kích hoạt, lưu trữ và khuyếch đại năng lượng vũ trụ; kích thích các chức năng hoạt động của não và tăng cường mức độ tập trung; ứng dụng tuyệt vời cho sự trầm tư mặc tưởng, tạo ra trạng thái cân bằng cho tâm hồn.
Con lắc được làm bằng thạch anh trắng có chất lượng tuyệt hảo áp dụng cho các nhà ngoại cảm, các chuyên gia cảm xạ học...
Trong dòng họ thạch anh trắng xuất hiện 1 loại thạch anh có năng lượng cực mạnh rất quý hiếm. Đó là thạch anh Tóc. Còn gọi là thạch anh Rutile, thạch anh titan.. Thạch anh Tóc là thạch anh trắng, bên trong có chứa các sợi tinh thể Titanium (TiO2) quý hiếm. Trên thế giới thạch anh Tóc thiên nhiên được xem là vô cùng quý hiếm.

Đá phong thủy - Tinh hoa của vũ trụ - 1


Thạch anh tóc vàng – Golden rutilated Quartz: Có năng lượng từ trường cực mạnh, tăng cường khả năng nhận thức niềm tin và tính quyết đoán, cầu duyên, đem đến dũng khí cho con người, trợ giúp hệ thống thần kinh xương khớp. Thạch anh tóc đỏ có tác dụng đối với cơ quan sinh dục nữ. Thạch anh tóc chứa nhiều chất rutile nên thường có màu vàng, cũng có thể gọi thạch anh tóc màu vàng là thạch anh Titan.

- Nếu có người hay do dự, không quyết đoán, chần chừ, khi định quyết một vấn đề, hãy nên đeo thạch anh tóc vàng, để gần vùng thần kinh thái dương, kết hợp thở gấp trong thời gian ngắn, sẽ nhanh chóng có quyết định chính xác.

- Dùng thạch anh tóc vàng để gần vùng thần kinh thái dương, và tư duy, có tác dụng tăng chí tiến thủ, gan dạ, sáng suốt, phát huy tính sáng tạo, có dũng khí tiếp nhận những thách thức, thử nghiệm và xác định được những việc làm, để có hiệu quả thành công nhất.
- Đối với người cả tin, mềm lòng trước những lời khẩn cầu, van xin của người khác, thường làm nhiều việc đi ngược lại lợi ích của bản thân, thì trong khi bàn công việc, hãy cầm thạch anh tóc vàng, có tác dụng giữ vững lập trường, mà không hứa tuỳ tiện.

- Đối với người dễ bị những lời nói của nhân viên tiếp thị hoặc những lời dỗ ngon ngọt của người yêu làm mê hoặc, nên đeo bên mình thạch anh tóc vàng, có thể đủ sức sáng suốt, nhận ra sự thực, không dễ bị lừa.


Thạch anh vàng – Citrine: tích tụ năng lượng cực mạnh, là loại đá đại diện cho tình yêu, tích tụ tài lộc, trợ giúp hệ thống tiêu hoa, gan và dạ dày. Thạch anh vàng (Citrine) tượng trưng cho tài lộc phú quý nên được gọi là viên đá kinh doanh, thường được các chủ kinh doanh để ngay tại bàn làm việc hay quầy thu ngân để thu hút may mắn tài lộc. Thời xưa, người ta đeo thạch anh vàng để chống lại nọc rắn độc và quỷ ám. 


Thạch anh phấn hồng – Rose Quartz: Là viên đá của tình yêu, thạch anh hồng được cho là tăng cường năng lượng tích cực cho tình yêu và hôn nhân. Nó thường được dùng để dưới giường ngủ của vợ chồng để tránh các mối bất hòa có thể xảy ra, giúp tăng cường sự tự tin và khả năng sáng tạo, giúp ngủ ngon, không mơ hoảng, giúp phục hồi trí nhớ.
Ghi chú: nên để thạch anh hồng dưới chân giường thì tốt hơn để ở đầu giường, tránh năng lượng quá mạnh của thạch anh ảnh hưởng đến giấc ngủ...
Đá phong thủy - Tinh hoa của vũ trụ - 2

Thạch anh khói :Là viên đá của sự bảo vệ và là hoa tiêu dẫn đường, thạch anh ám khói được cho rằng giúp phân tích tốt mọi việc ; Cân bằng năng lượng tinh thần và thể chất; Gắn bó tình cảm gia đình; Làm hết buồn phiền – buồn rầu; Tập trung tư tưởng tốt và giảm đau nhức.
Trong dòng họ thạch anh ám khói, đặc biệt xuất hiện thạch anh vàng hoặc vàng khói. Thạch anh vàng còn được gọi là viên đá kinh doanh, thường được các chủ nhà hàng, siêu thị, khách sạn để ngay tại quầy thu ngân để thu hút vận may tài lộc, buôn may bán đắt. Thạch anh vàng rất hiếm, đôi khi còn hiếm hơn cả thạch anh tím (đá quý amethyst).
Thạch anh ám khói ở trong 1 điều kiện môi trường đặc biệt sẽ chuyển thành thạch anh đen. Thạch anh đen có khối lượng riêng rất nặng và độ cứng cao nhất trong các loại thạch anh. Năng lượng của thạch anh đen thích hợp với người mạng Thủy, Mộc, Kim và người ta tin rằng nó giúp cho người sở hữu có thể tiếp xúc với quyền năng huyền bí của vũ trụ. Thạch anh đen tự nhiên cực kỳ hiếm. Tuy nhiên, nếu thạch anh đen được tạo nên do đốt xử lý sẽ mang trong mình năng lượng âm, ảnh hưởng ngược lại cho người sử dụng.
Đá phong thủy - Tinh hoa của vũ trụ - 3


Thạch anh tóc màu đỏ: Các bạn gái nếu có thể chất yếu, khí huyết không điều hoà, hãy đeo nhiều thạch anh tóc đỏ, để bổ sung từ trường cho ba vùng dưới (vùng mông, vùng rốn, và vùng thái dương)

- Các bạn gái nếu không đủ lòng nhiệt tình, tính nhỏ mọn, không chủ động và có hiện tượng lãnh cảm, dù có vẻ ngoài xinh đẹp, cũng không được chồng, bạn trai yêu quý, đề nghị nên đeo nhiều thạch anh tóc đỏ, để tăng cường sức sống, sức hấp dẫn, và sự thân thiện.


Đá cảnh phong thủy : Đá kiểng Phong Thuỷ bao gồm: Mã Não (Agate), Ca-xe-đon, gỗ hoá thạch... Đây là các loại đá bán quý cũng trong dòng họ thạch anh. Tính chất của các loại đá này thay đổi tuỳ theo loại đá, tuy nhiên với năng lượng Thổ rất mạnh gần bằng với năng lượng của đá thạch anh, chúng cũng được sử dụng để tăng năng lượng tại góc Tây Nam (chủ về mối quan hệ làm ăn) và góc Đông Bắc (chủ về học hành) của ngôi nhà.
Nét đẹp của đá kiểng Phong Thuỷ nằm ở hình dáng, nước đánh bóng và màu sắc của viên đá... Quý nhất là các viên đá được tìm thấy trong thiên nhiên mang dáng dấp các con vật như cá, thỏ, chó, chim ưng, bồ câu...
Cách thức tẩy rửa Thạch Anh: Thạch anh sau khi mua về phải ngâm trong nước muối biển hoặc hỗn hợp giữa muối hột và muối ăn trong vòng 7 ngày 7 đêm. Nghi thức này sẽ tẩy sạch tất cả năng lượng âm, kích hoạt mạnh mẽ năng lượng dương mà tinh thể thạch anh đã thu hút từ vũ trụ trong hàng trăm triệu năm.
 Đá phong thủy - Tinh hoa của vũ trụ - 5

"Thần rắn" Tư Dược và chuyện "sinh nghề tử nghiệp"!

(Phunutoday) - Một buổi sáng tháng 6, những hàng phượng vĩ nở đỏ rực một góc trời thành phố Mỹ Tho, chúng tôi tìm đến nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Tiền Giang để viếng mộ “thần y” chữa bệnh rắn cắn nổi tiếng Nam bộ. Không mấy khó khăn để tìm ra bia mộ ông vì những anh chị công nhân, bảo vệ nghĩa trang ở đây đều rất rành mạch và tự hào về thần y Tư Dược là người con của quê hương Tiền Giang nằm yên nghỉ bên cạnh những anh hùng Lê Thị Hồng Gấm, Hồ Văn Nhánh…

Ngôi mộ nằm bên phải khu vực đài tưởng niệm cao ngất ngưởng, trang nghiêm, hùng vĩ  mang dòng chữ Tổ quốc ghi công, nhân dân đời đời ghi nhớ công ơn những người đã hy sinh vì Tổ quốc, vì độc lập tự do cho dân tộc. Bên cạnh hàng hoa sứ đại nở đầy hoa trắng rất đẹp là tấm mộ bia bằng đá granit xứ Quảng Nam, ghi đơn giản mấy dòng chữ: “Đồng chí Trần Văn Dược, sinh năm 1929. Quê quán:  Tuyên Thạnh - Mộc Hóa - Long An. Chức vụ: Đại tá, Phó Chủ nhiệm Phòng Quân y Quân khu 9. Từ trần ngày 19/07/1988” .

Dòng chữ ghi trên mộ chí đã khiến tôi giật thót người, nghe cơn lạnh chạy dài theo sóng lưng khi liên tưởng đến: ông sinh vào năm Kỷ Tỵ 1929 (tuổi rắn) và mất đúng năm Kỷ Tỵ 1988 (cũng năm rắn) tròn giáp một chu kỳ 60 năm. Có thể vì sự ngẫu nhiên này mà đã có rất nhiều giai thoại đồn đại về ông pha màu sắc thần bí, li kỳ hay là sự thật?

Ông tuổi rắn, lớn lên hành nghề y, chuyên bắt rắn, nghiên cứu bào chế huyết thanh để trị rắn cắn người. Rồi cũng nhằm đúng vào năm rắn sau 60 năm âm dương, ngũ hành vận chuyển trong trời đất để rồi ông lại chết vì rắn độc cắn…
rắn hổ mang chúa.


Để tìm hiểu thêm về cuộc đời của ông, tôi quay lại trung tâm thành phố Mỹ Tho tìm hai người con của ông. Anh con thứ tư tên Trần Văn Dũng, cán bộ lãnh đạo thành phố, hỏi thăm được biết anh đang theo học chính trị cao cấp tại Học viện Nguyễn Ái Quốc - Thủ Đức – TP. Hồ Chí Minh. Anh Trần Thiện Tín con trai trưởng đang công tác tại Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang.
Bên cạnh dòng sông Tiền thơ mộng, trong một quán nước ở khu công viên Lạc Hồng, tôi đã cùng anh Trần Thiện Tín, sinh năm 1954, Phó Phòng Thanh Tra Sở LĐTB&XH Tiền Giang chuyện trò tìm hiểu sự thật về ông Tư Dược. Vừa gặp nhau, anh Tín nói ngay: “Anh là nhà báo đầu tiên gặp tôi để viết về ba tôi. Tôi cảm thấy vui và hạnh phúc”.

Theo anh Trần Thiện Tín cho biết, nghề chữa trị rắn cắn của ba anh là một nghề gia truyền của gia đình. Theo những gì anh biết, thì ông cố anh là người dân miền Trung (Quảng Ngãi) đã hành nghề chữa bệnh rắn cắn, sau đó truyền lại cho nội anh và ba anh là người được nội truyền nghề.

Ngay từ nhỏ, ba anh đã học nghề bắt rắn và tìm hiểu cách lấy nọc, cách chữa trị khi rắn cắn bằng những cây thuốc, lá cỏ trong dân gian. Trong xóm làng có ai bị rắn cắn là chạy đến nhờ hai cha con Tư Dược chữa trị. Không chỉ trị dùm, ba anh còn chỉ bày cho người dân cách sử dụng những lá thuốc trong rừng để cầm rịt vết thương, nặn máu độc ra ngoài, ngăn chặn không cho nọc độc lan vào cơ thể theo máu, biến bệnh nhân thành thầy thuốc, ít nhất tự sơ cấp cứu để cầm cự trước khi đưa đến nơi chữa trị.

Đến khi thoát ly gia đình tham gia kháng chiến, được theo học nghề quân y ba anh càng có thêm cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu nghiên cứu sâu hơn về nọc độc của rắn các loại nhằm chữa trị cho bộ đội, nhân dân trong vùng Đồng Tháp Mười vào mùa nước lũ lúc nhúc rắn độc.

Ai từng sống trong vùng lũ U Minh, Đồng Tháp Mười không lạ gì chuyện nước lên vào khoảng tháng 10, tháng 11 cả khu vực mênh mông là nước. Rắn chuột và các loại bám vào ngọn cây đày đặc để sinh tồn đợi nước rút xuống.

Nhà sàn, nhà chòi trong đồng sáng ngủ dậy bốn bề là rắn các loại. Ai chưa từng sống vùng nước nổi, chỉ riêng việc mở mắt thức dậy, thấy rắn đang nằm co ro khè khè bên cạnh đủ để chết điếng hồn vì kinh hãi. Nhưng người dân vùng lũ, quen “chung sống hòa bình” với lũ rắn, không những không biết sợ hãi là gì mà còn cảm ơn ông trời đã cho họ vài giỏ rắn bắt mang đi bán kiếm tiền mua gạo ăn.

21 năm xa cách gia đình ngay trên quê hương

Năm 1954, Trần Văn Dược cùng đồng đội lên đường tập kết ra Bắc theo Hiệp định Genève. Vợ ông, bà Phạm Thị Tranh (sinh năm 1932) khóc tiễn chồng ra đi trong lúc đang mang thai anh Tín. Bà Tranh hiện đang sống cùng người con trai là anh Trần Văn Công ở huyện Cái Bè.

Giống như bao phụ nữ miền Nam ngày ấy tiễn chồng ra đi, không ai dám hẹn chính xác ngày về, nhưng người phụ nữ Nam bộ chỉ biết mòn mỏi đếm ngày đi. Rồi 2 năm trôi qua, rồi 5 năm, 10 năm cũng trôi qua trong ngập tràn khói lửa chiến tranh, kèo dài đằng đẳng đến ngày 30-4-1975 tròn 21 năm theo cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc hơn 7600 ngày.

Khi ra đến Hải Phòng không bao lâu, Trần Văn Dược được tổ chức phân công vượt đường Trường Sơn về Nam chiến đấu. Gần nửa năm đi bộ, ngủ võng với muỗi vắt, mưa rừng, vực sâu, đèo cao ông được phân công về công tác tại huyện ủy Cái Bè. Hành khúc của người lính vượt Trường Sơn mãi mãi là bài ca đẹp nhất chủ nghĩa anh hùng cách mạng, như lời thơ của Nguyễn Duy :

“Chợt hiện về thăm thẳn núi non kia
Dưới lá là hầm, là tăng, là võng
Là cơn sốt rét rừng vàng bủng
Là muỗi, vắt, bom, mìn, vực sâu, đèo trơn
Những đoàn quân đi xuyên Trường Sơn
Ngủ ôm súng suốt một thời tuổi trẻ
Đêm trăn trở đố nhau: bao giờ về thành phố ?
Con tắc kè nhanh nhẩu nói: sắp về…”
(bài thơ Nghe tiếng Tắc kè kêu trong thành phố)

Cũng như những người lính Trường Sơn năm xưa, Tư Dược luôn mong ước ngày đất nước giải phóng, đoàn tụ gia đình, nhưng cuộc chiến tranh ác liệt diễn ra từng ngày nên mơ ước bình thường và giản dị nhất cũng quá xa vời tầm tay. Ông sống và chiến đấu tại quê hương nhưng vợ con ông không hề hay biết, không gặp mặt bao giờ. 
…Trầm ngâm rất lâu, ánh mắt buồn xa xăm nhìn ra phía cù lao Thới Sơn,  anh Trần Thiện Tín nhớ lại chuyện xa xưa về cuộc đời. Có lẽ anh đang nghĩ về người cha thân yêu trong hồi ức dĩ vãng. Anh kể chuyện, mẹ anh sinh non khoảng 2 tháng cứ tưởng phải bỏ vì nhỏ quá, sợ nuôi không được. Cậu bé có chút thịt xương, người quắt queo, còi cọc do điều kiện trong chiến khu rất thiếu thốn, khó khăn.

Rất may là anh đã sống và nhờ ăn cháo cóc mấy anh bộ đội mần thịt nấu cháo mà lớn lên từng ngày. Rồi như cây lúa, cây tràm đước trong đồng bưng Tháp Mười, anh lớn lên theo thời gian, theo những mùa nước nổi mênh mông với hồi ức mẹ kể về người cha là bộ đội đi tập kết ở miền Bắc, chắc là đang chiến đấu đâu đó chưa về thăm hai mẹ con.

Anh mơ giấc mơ ngày hòa bình độc lập để gặp lại cha. Anh đâu biết rằng người cha của anh đang là đồng đội của anh cũng đang chiến đấu với kẻ thù ngay trên quê hương Tiền Giang mà không gặp nhau. Khi vào bộ đội chiến đấu, hễ gặp ai từ Bắc vào, anh hỏi thăm về người cha Trần Văn Dược có biệt tài bắt rắn, trị rắn cắn rất hay… Không ai biết, không ai gặp người này. Những cái lắc đầu khiến anh buồn chơi vơi.
Câu chuyện về cuộc đời của Đại tá Trần Văn Dược còn có chuyện rất cảm động qua lời kể của anh Trần Thiện Tín: đó là ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, tràn ngập niềm vui trên khắp nẻo đường mừng đất nước hòa bình, độc lập.

Trong dòng người hôm ấy, có anh bộ đội giải phóng quân Tư Dược với ba lô, mũ tai bèo, dép cao su, mang súng AK hăm hở sải bước tìm về căn nhà cũ ngày xưa anh đã sinh ra và lớn lên đúng 21 năm biền biệt chưa một lần trở lại quê thăm gia đình. Mặc dù suốt ngần ấy thời gian, ông đã sống và chiến đấu, chữa bệnh cho bộ đội, nhân dân ngay trong vùng Đồng Tháp Mười mà vẫn bặt tin nhà.

Giữa trưa, khi ông tìm về đến ngôi nhà cũ đã sinh ra mình, những tưởng bao nhiêu niềm vui, sung sướng vì chờ đợi sẽ vỡ òa hạnh phúc nhưng ai ngờ… Đúng vào lúc này, người cha kính yêu của ông sau 21 năm ròng rã chờ tin con mà ông nghĩ có thể đã hy sinh rồi, đang hấp hối với hơi thở yếu dần trên giường. Dường như có thần giao cách cảm, dường như có một linh cảm vô hình về giây phút cuối cùng của cuộc đời ông chờ đợi ngày độc lập và chờ đợi con trai về sau 21 năm đằng đẳng bặt tin.

Cha con chỉ kịp nhận ra nhau trong mơ màng, thì liền sau đó ông trút hơi thở sau cùng nhẹ nhàng ra đi. Nếu anh bộ đội Tư Dược chỉ về muộn hơn một chút, thì vĩnh viễn không bao giờ còn kịp gặp cha. Cả ngày hôm trước, lòng ông nóng như lửa đốt, kim châm bồn chồn ngồi đứng không lúc nào yên. Ngay vừa xong việc đơn vị, chân ông như muốn đưa ông chạy ngay về nhà.

Còn anh Trần Thiện Tín, anh nghĩ số phận cũng lạ lùng làm sao. Hai cha con ở cùng làm bộ đội, cùng chiến đấu cùng một huyện Cái Bè nhưng vẫn chưa một lần gặp nhau. Để mặc cha anh tưởng tượng về con trai trong giấc ngủ, để mặc anh nằm mơ thấy cha mình qua lời kể của mẹ.

Lúc Tư Dược về thành phố Mỹ Tho tiếp quản, ông hỏi thăm con trai Trần Thiện Tín và được biết anh Tín đang là chiến sĩ trinh sát thuộc đơn vị Cục hậu cần Quân khu 8 cũ, đang làm nhiệm vụ truy kích tàn binh địch tháo chạy ở Vĩnh Long chưa về. Lần này đến lược Tư Dược, ông buồn bã và bồn chồn đứng ngồi không yên vì sợ phút cuối cùng của cuộc chiến tranh luôn gắn liền với phút tử sinh vô thường của con người rủi may.

Là người lính, chinh chiến suốt 21 năm, ông chưa bao giờ sợ hy sinh hay mất mát, ấy vậy mà giậy phút trắc ẩn của cuộc đời về đứa con trai chưa một lần gặp mặt đã thật sự làm ông lo lắng, khắc khoải ngóng tin từng giờ. Cũng dễ hiểu thôi, ngày ông chia tay vợ lên đường đi tập kết, bà Tranh ở lại quê hương với bụng mang dạ chửa, ông chưa biết là trai hay gái. Huống hồ giờ đây, đất nước hòa bình, cha con ông vẫn chưa gặp được nhau.

Gia đình “Thần y” Tư Dược có tất cả 4 người con, ba trai một gái. Anh út Trần Văn Dũng –nguyên là Chủ tịch TP. Mỹ Tho, sinh năm 1967 hiện đang học tại Học viện Chính trị Hồ Chí Minh. Chị Trần Thị Thanh Nga và anh Trần Văn Công sống với mẹ ở Cái Bè - Tiền Giang .
Lập trại nuôi rắn cứu người và chuyện sinh nghề tử nghiệp

Vào ngày 27/5/1977 “vành đai chi khu Bình Đức” thuộc huyện Châu Thành - Tiền Giang còn ngổn ngang bom mìn và dây thép gai chưa được rà phá. Có một chiếc xe jeep của quân đội mang biển số đỏ, trên xe chở 5 người đàn ông và 3 con rắn hổ đất chạy thẳng vào trung tâm Đồng Tâm - Bình Đức rồi dừng lại. Họ dựng chòi cắm trại, tháo gỡ bom mìn trên phần đất rộng nửa héc ta và đóng lồng nuôi rắn.

Đội trưởng Đội nuôi rắn thuộc Cục quân y Quân khu 9 do Trần Văn Dược làm đội trưởng, còn đội phó chính là ông sui gia của ông sau này (ông Lý Văn Kiên (Ba Kiên) cha vợ anh Trần Thiện Tín - sau khi ông Tư Dược qua đời, lên thay ông làm Giám đốc Trung tâm).

Trại rắn Đồng Tâm ngày nay, tiền thân là Đội nuôi rắn, sau đổi tên thành Xí nghiệp 408, có diện tích rộng 12 ha, nằm trong khu vực căn cứ Đồng Tâm cũ của địch trước đây. Ngày nay, Trại rắn Đồng Tâm không chỉ là một địa điểm du lịch tham quan nổi tiếng mà còn là một bảo tàng rắn “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam với hơn 1.000 loài rắn các loại, trong số này có hơn 100 con hổ mang chúa được nuôi để lấy nọc sản xuất huyết thanh để chữa trị rắn cắn.

Đến năm 1988, do yêu cầu nhiệm vụ phục vụ quân đội và nhân dân vùng biên giới, Quân khu 9 đã quyết định nâng cấp Xí nghiệp 408 lên thành Trung tâm nuôi trồng, nghiên cứu, chế biến dược liệu Quân khu 9.

Năm 2005 Trung tâm được Bộ Quốc phòng đầu tư hơn 10 tỷ đồng xây dựng Khoa cấp cứu rắn độc, nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc hiện đại phục vụ nghiên cứu và điều trị nội trú cho bệnh nhân trong vùng bị rắn độc cắn.

Tính từ ngày thành lập đến nay, đã có trên 10.000 người bị rắn độc cắn đã được Trung tâm cứu chữa thoát chết trong gang tấc. Bình quân mỗi năm có khoảng 500 ca cấp cứu do rắn độc cắn được Trung tâm tiếp nhận điều trị. Đến nay có thể nói 100% các ca bị rắn độc cắn nếu kịp đưa đến Đồng Tâm đều được cứu sống.

Không thể kể hết những vất vả, nguy hiểm của tập thể những cán bộ, y bác sĩ nuôi rắn nơi đây từ những ngày đầu tiên thành lập để có được qui mô khang trang, bề thế như bây giờ. Phải tự mày mò, nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm từ khâu nuôi, phối giống, chăm sóc và lấy nọc. Có một số loài phải thả tự nhiên trong khi vực khoanh vùng mà ngày nay khách du lịch tham quan có thể nhìn thấy qua bờ tường và lớp rào bảo vệ.

Khó khăn nhất và cũng nguy hiểm nhất là việc bắt rắn độc lấy nọc. Có những con hổ chúa, hổ mang nặng trên 7 kg, dài thườn thượt rất hung dữ, sẵn sàng phùng mang, lè lưỡi đỏ, phun nọc tấn công bất cứ lúc nào nếu con người bất cẩn trong chớp mắt. Tuy trong dân gian có khá nhiều “sát thủ” bắt rắn giỏi hơn bắt cá, nhưng ai mà biết được một phút sai lầm phải trả giá cả mạng người trước loài thú hoang dã đầy hung tợn và nguy hiểm như rắn độc.

Người dân sống trong vùng Đồng Tháp Mười tại các tỉnh Long An, Tiền  Giang và Đồng Tháp, khi bị rắn cắn ngoài việc sơ cứu chặn nọc rắn xâm nhập cơ thể, phải nhanh chóng tìm mọi cách, lập tức đưa người bị nạn đến Trại rắn Đồng Tâm gặp thầy Tư Dược và các y bác sĩ cứu chữa bảo đảm thoát chết.

Chỉ cần người bị rắn cắn trái tim còn đập là còn được sống khi đến đây. Lời tuyên bố này không chút khoa trương hay cường điệu, mà là thực tế đã được chứng minh sau hơn 30 năm hoạt động của Trung tâm. Chưa nói đến việc chữa trị miễn phí cho người dân trong thời gian điều trị, xem như một việc làm tình nghĩa quân dân xưa nay như cá với nước. Tuy giá cả thuốc men điều trị bình quân khoảng 200.000đ đến 500.000đ/ca, nhưng với bà con nông dân nghèo ở trong vùng sâu là một con số rất lớn.

Chỉ tính riêng việc chi phí vận chuyển nạn nhân từ vùng sâu về đến Trung tâm thôi đã tốn bao nhiêu tiền bạc của người nghèo. Nhưng con số có thấm tháp  vào đâu khi so với một nhân mạng được cứu sống khỏi bàn tay tử thần, mà dù có bạc tỷ cũng không thể cứu sống được.


Vì vậy mà tên tuổi của thầy rắn Tư Dược, bác sĩ Nguyễn Danh Sinh, các y bác sĩ trong màu áo xanh bộ đội trở thành những ân nhân của bà con vùng sâu Đồng Tháp Mười từ mấy mươi năm qua.

Dự án phát triển Trung tâm nuôi rắn lấy dược liệu chữa trị rắn cắn phục vụ cho quân dân đồng bằng sông Cửu Long là đề tài khoa học mà Đại tá Trần Văn Dược dày công nghiên cứu ấp ủ lúc sinh thời. Tiếc thay khi mọi chuyện sắp thành sự thật thì ông đột ngột qua đời. Người tính không bằng trời tính, xưa nay vẫn thường như vậy.

Về cái chết của ông cũng có khá nhiều giai thọai đồn đại về cuộc đời “sinh nghề tử nghiệp” trong nhân gian và luật nhân quả ngàn xưa để lại. Ông sinh đúng vào năm Kỷ Tỵ 1929 là năm rắn, rồi cũng đúng năm Kỷ Tỵ 1988 ông bị rắn cắn mất tròn đúng 60 năm tuổi. Chính ông là bậc thầy bắt rắn, gọi rắn, đuổi rắn và chữa trị rắn cắn từ những năm chiến tranh đến khi lập ra Trại rắn Đồng Tâm, thế nhưng ông mất cũng vì rắn cắn… mà không thể cứu chữa được.

Rồi thì có người còn loan truyền tin: đây là con rắn cặp hổ chúa dài hơn 3 mét, nặng gần 20 kg mà ông bắt một con trong Đồng Tháp Mười mang về nuôi lấy nọc, một con còn lại theo xuống đây trả thù…

Về việc này, anh Trần Thiện Tín kể lại: “Không hề có chuyện như mọi người thêu dệt đâu. Ba tôi là người rất giỏi về bắt  rắn, có thể gọi rắn, biết rắn ở đâu, biết nuôi rắn, lấy nọc độc để nghiên cứu khoa học về huyết thanh chữa trị bệnh rắn cắn. Năm 1988,  khi đang dạy một lớp quân y tại Trại rắn Đồng Tâm về cách chữa trị rắn cắn, sáng đó thức dậy tập thể dục, ba tôi bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ.

Sau đó đưa lên Viện quân đội 175 ở Gò Vấp – TP. HCM cấp cứu, đến khoảng 3 giờ chiều thì ba bị co giật, sùi bọt mép rồi mất. Chính vì thế mà mọi người nghi ba tôi bị rắn cắn. Cũng do ba sinh năm Kỷ Tỵ và mất đúng năm Kỷ Tỵ  tròn 60 tuổi nên có nhiều chuyện dân gian họ nói vậy mà.

Anh Trần Thiện Tín con thần rắn Tư Dược.
Nhưng triệu chứng biểu hiện của ông, ai cũng biết đó là dấu hiệu của người bị rắn độc cắn.

-Sao không có ai theo nghề của ông? Bất ngờ tôi hỏi, anh Trần Thiện Tín cười cười một lúc:

-Lúc sinh thời ba tui không hề nói chuyện truyền nghề hay theo nghề của ba. Nhưng đến khi ba mất, còn một cái tủ riêng đựng tài liệu của ba đã dày công nghiên cứu về các loại rắn có lẽ từ thời trước tới giờ, nhưng mấy anh em chỉ định bụng đến lúc nào đó sẽ mở ra coi còn gì ba dặn dò trong đó không. Không phải vì lý do đặc biệt gì đâu, ba tui là cán bộ quân y cách mạng, chắc không mê tín gì đâu. Nhưng tôi biết trong đó hẳn có chứa những bí mật về nghề nghiệp mà ba theo đuổi tâm huyết cả một đời.

Được biết, vào năm 1990-1991, anh Tín từng lập trang trại nuôi trên 2.000 con rắn, anh cũng biết cách bắt rắn hổ và chữa trị rắn cắn rất tài. Duyên nợ với nghề nuôi rắn còn nặng với anh lắm: ba vợ anh là ông Lý Văn Kiên (Ba Kiên), nguyên GĐ Trại rắn Đồng Tâm (hiện nghỉ hưu) là người kế tục Tư Dược làm GĐ khi ông được điều về công tác tại Phòng Quân y Quân khu 9.